Thời gian qua, BHXH Việt Nam luôn chủ động phối hợp chặt chẽ với Bộ LĐ-TB&XH và Ủy ban Xã hội của Quốc hội… cung cấp các thông tin, số liệu thống kê, đánh giá về tình hình thực hiện chế độ, chính sách, đánh giá tác động chính sách làm cơ sở xây dựng, sửa đổi các dự luật quan trọng liên quan trực tiếp đến chính sách BHXH, BHYT như: Luật BHXH (sửa đổi), Luật BHYT (sửa đổi), Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi)…

Các ý kiến của BHXH Việt Nam cơ bản đều được ghi nhận, tiếp thu, qua đó góp phần củng cố, hoàn thiện chính sách và tạo thuận lợi cho NLĐ, nhân dân được tham gia và hưởng chế độ. Đối tượng tham gia BHXH, BHYT ngày càng mở rộng; chế độ BHXH được thiết kế theo hướng tiệm cận với nguyên tắc đóng- hưởng, từng bước hướng đến sự bình đẳng trong thụ hưởng giữa các nhóm đối tượng; mở rộng chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia BHXH, BHYT nhằm tiến tới bao phủ BHXH, BHYT toàn dân…

Bên cạnh công tác xây dựng chính sách, việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT luôn được đảm bảo đầy đủ, phục vụ kịp thời tới từng người tham gia và hưởng BHXH, BHYT, nhất là trong thời gian ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19, thiên tai, bão lũ, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống NLĐ cũng như phục vụ kịp thời các hoạt động KCB, bảo vệ sức khỏe người dân. Với số lượng người tham gia và hưởng BHXH, BHYT ngày càng lớn, khối lượng công việc ngày càng nhiều, ngành BHXH đã áp dụng triệt để các biện pháp cải cách TTHC, ứng dụng CNTT trong giải quyết các chế độ chính sách; cập nhật toàn bộ dữ liệu của trên 16 triệu NLĐ tham gia BHXH, BH thất nghiệp; toàn bộ các quy trình nghiệp vụ giải quyết chính sách đều được thực hiện trên phần mềm liên thông, chia sẻ dữ liệu với các phần mềm nghiệp vụ khác và CSDL của các bộ, ngành…

Qua theo dõi, giám sát, tôi thấy rằng, bên cạnh sự nỗ lực thực hiện tốt các nhiệm vụ, mỗi cán bộ BHXH tại các địa phương rất áp lực, nhất là việc thực hiện gói hỗ trợ đặc biệt “chưa có tiền lệ” 38.000 tỷ đồng cho NLĐ bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Với gói hỗ trợ cho NLĐ từ kết dư quỹ BH thất nghiệp, đội ngũ cán bộ BHXH đã phải làm ngày, làm đêm, làm cả thứ Bảy và Chủ nhật với tinh thần trách nhiệm rất cao, tất cả vì NLĐ. Những công việc này luôn “thầm lặng” và không bao giờ được báo cáo đầy đủ để người dân chia sẻ cùng những nỗ lực của ngành BHXH. Điều này cho thấy, trách nhiệm của ngành BHXH ngày càng nặng nề, đặc biệt trong giai đoạn mới này hết sức căng thẳng.

Tôi đánh giá cao ngành BHXH Việt Nam trong việc cải cách TTHC và ứng dụng CNTT. Cụ thể, đã thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 4 cho tất cả các TTHC; tích hợp, liên thông trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia; triển khai thanh toán điện tử trong việc đóng BHXH, BHYT.

Cơ quan BHXH cũng đã triển khai các CSDL điện tử chuyên ngành, hệ thống quản lý chi trả, xét duyệt các chế độ; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động thanh kiểm tra, khai thác, phân tích dữ liệu để đánh giá, xác định dấu hiệu lạm dụng, trục lợi BHXH, BHYT...

Cùng với đó, BHXH Việt Nam đã đẩy mạnh chuyển đổi số trong các hoạt động của Ngành, đặc biệt là trong giai đoạn 2016-2020 đã có những bước đột quá trong ứng dụng CNTT, giúp đổi mới căn bản phương thức hoạt động của Ngành, góp phần xây dựng thành công Chính phủ số, với mục tiêu cuối cùng là phục vụ tốt nhất quyền lợi của DN, người dân. Đồng thời, BHXH Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu về xây dựng Chính phủ điện tử mà Quốc hội, Chính phủ đặt ra.

Với phương châm “lấy người dân, DN làm trung tâm phục vụ”, đến nay BHXH Việt Nam đã xây dựng, hoàn thiện kho CSDL với 6 trường thông tin cơ bản của hơn 98 triệu dân.

Hoàn thiện và đưa vào triển khai thành công ứng dụng VssID. Đặc biệt, từ 1/6/2021, đã chính thức triển khai, sử dụng thẻ BHYT trên ứng dụng VssID để đi KCB BHYT trên phạm vi toàn quốc...

Ngành BHXH Việt Nam đã tích cực tham mưu, tổ chức thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT, góp phần đảm bảo an sinh xã hội đất nước. Đồng thời, luôn chủ động và thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương trong triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT, nhất là trong công tác tuyên truyền phát triển đối tượng, bởi đây là cầu nối, phương tiện hiệu quả nâng cao nhận thức của người dân về BHXH, BHYT.

Dù ảnh hưởng nặng nề của dịch COVID-19, song số người tham gia BHXH vẫn tiếp tục tăng, nhất là số người tham gia BHXH tự nguyện tăng vượt chỉ tiêu được giao. Song, tôi cho đó vẫn là con số khiêm tốn so với tiềm năng.

Số người tham gia BHXH tự nguyện còn thấp, có một phần nguyên nhân do chế độ hưởng chưa đủ sức hấp dẫn, mới chỉ dừng lại ở hưu trí và tử tuất nên kém thu hút so với các loại hình BH bắt buộc.

Vì vậy, Chính phủ cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát các quy định, sớm sửa đổi Luật BHXH, Luật Việc làm làm cơ sở để ngành BHXH Việt Nam có các biện pháp gia tăng tỷ lệ người tham gia BHXH tự nguyện cũng như giải quyết những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc trong thực hiện chính sách BHXH, BHYT.

Đến hết năm 2020 còn khoảng 66,5% NLĐ trong độ tuổi chưa tham gia BHXH, trong đó số người tham gia BHXH tự nguyện mới đạt gần 3% lực lượng lao động là nông dân, lao động khu vực phi chính thức.

Dù đã rất cố gắng, nhưng dư địa để phát triển BHXH còn rất lớn. Để đạt được mục tiêu Nghị quyết 28-NQ/TW, cần sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của cả hệ thống chính trị cũng như ngành BHXH Việt Nam.

BHXH Việt Nam cần tiếp tục tăng cường hơn nữa hoạt động tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân, tạo chuyển biến về nhận thức và nhận thức đầy đủ giá trị, tính ưu việt của chính sách BHXH tự nguyện. Đồng thời, BHXH các địa phương cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong hệ thống chính trị để xây dựng mạng lưới cộng tác viên, tuyên truyền viên về chính sách BHXH đến tận thôn, phố, bản. Quan tâm tuyên truyền đến các nhóm đối tượng thu nhập khá và ổn định, có khả năng tham gia BHXH tự nguyện. Cùng với đó, Chính phủ cần sớm nghiên cứu để điều chỉnh về chính sách BHXH tự nguyện theo hướng thiết kế bổ sung các chế độ được hưởng như: Ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN.

Để khuyến khích, thu hút ngày càng nhiều người dân tham gia vào hệ thống BHXH thông qua chính sách BHXH tự nguyện, Nhà nước cũng cần nâng mức hỗ trợ đóng BHXH đối với các đối tượng.

Những năm gần đây, ngành BHXH Việt Nam đã có nhiều thành tựu, đáng chú ý là tỷ lệ người dân tham gia BHXH, BHYT ngày càng tăng; công tác quản lý và sử dụng quỹ BHXH, BHYT bảo đảm an toàn, cân đối thu- chi, nhất là tính độc lập của quỹ cũng như việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý; giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BH thất nghiệp chính xác, kịp thời và thuận tiện nhất cho người hưởng.

Việc số hóa của ngành BHXH Việt Nam phát triển rất mạnh. Sự đồng hành của ngành BHXH Việt Nam với các BV cũng là một điểm sáng. Chính sách BHYT thể hiện tính ưu việt trong chi trả chi phí cho bệnh nhân, nhất là người bệnh hiểm nghèo.

Việc Quốc hội đưa vấn đề BHXH, BHYT vào thảo luận tại hội trường trong năm 2021 là dịp tốt để người dân, xã hội hiểu rõ hơn về vai trò của BHXH- một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Năm qua, cộng đồng DN và NLĐ rất phấn khởi, đánh giá cao việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã tháo gỡ khó khăn, đưa ra nhiều quyết sách kịp thời, chưa có tiền lệ nhằm hỗ trợ DN, NLĐ bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

Trong đó, có những chính sách liên quan trực tiếp đến BHXH như: Giảm mức đóng vào quỹ BH thất nghiệp; tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất; giảm mức đóng BH TNLĐ-BNN. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ bằng tiền từ kết dư quỹ BH thất nghiệp cho NLĐ đã và đang tham gia BH thất nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 theo Nghị quyết 116/NQ-CP…

Dịch bệnh COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp và có khả năng còn kéo dài, sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển đối tượng tham gia BHXH.

Trong khi đó, năm 2022 là năm đầu tiên của giai đoạn tới để hoàn thành các mục tiêu về phát triển đối tượng tham gia BHXH theo Nghị quyết 28-NQ/TW, nên công việc của ngành BHXH Việt Nam sẽ nhiều áp lực.

Chính vì vậy, cùng với ngành BHXH Việt Nam, các cơ quan liên quan cũng cần quan tâm để thúc đẩy các giải pháp đồng bộ, quyết liệt trong việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, nhất là lao động ở khu vực phi chính thức, nhóm tham gia BHXH tự nguyện; hạn chế hưởng BHXH một lần. Khẩn trương trình Quốc hội dự án Luật BHXH (sửa đổi) để kịp thời thể chế hóa Nghị quyết của Đảng về cải cách chính sách BHXH, đáp ứng với tình hình mới và phát huy hơn nữa vai trò của BHXH là trụ cột của an sinh xã hội.

Những năm qua, ngành BHXH Việt Nam đã nỗ lực trong việc mở rộng diện bao phủ BHXH, BHYT, số người tham gia BHXH tự nguyện tăng rất cao.

Tuy nhiên, để người dân tham gia một cách bền vững, bên cạnh sự nỗ lực tuyên truyền, vận động của Ngành, Chính phủ cũng cần nghiên cứu có cơ chế, chính sách thuận lợi và hấp dẫn hơn để khuyến khích người dân ở vùng nông thôn, miền núi, vùng cao biên giới tham gia BHXH tự nguyện, nhất là người có thu nhập dưới trung bình.

Hiện nay NSNN hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn là 30% đối với người thuộc hộ nghèo, 25% đối với người thuộc hộ cận nghèo, 10% đối với người thuộc các đối tượng khác. Song với đặc thù của các địa phương miền núi, NLĐ có thu nhập thấp thường không ổn định việc làm, nên để khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới trung bình tham gia BHXH tự nguyện, Chính phủ cần nâng mức hỗ trợ đóng lên 50% đối với người thuộc hộ nghèo, 40% đối với người thuộc hộ cận nghèo và 20% đối với người thuộc các đối tượng khác.

Cùng với đó, sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết 68 của Quốc hội về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân, số người tham gia BHYT đạt tỷ lệ bao phủ khoảng trên 90,85% dân số- vượt 10,85 điểm phần trăm so với chỉ tiêu được giao tại Nghị quyết 68. Đến hết năm 2021, tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt khoảng 91% dân số.

Dù rất nỗ lực cố gắng, nhưng số người tham gia BHYT đã giảm do tác động của dịch COVID-19 cũng như ảnh hưởng của Quyết định 861/QĐ-TTg. Theo đó, các xã đã hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới chuyển từ vùng 3 sang vùng 1, nên các đối tượng là người DTTS thuộc đối tượng trước đây được NSNN đóng BHYT không còn được hưởng chính sách. Họ lại không có điều kiện tham gia BHYT hộ gia đình, dẫn đến tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân giảm xuống, có địa phương giảm từ 97% xuống còn 94%, có địa phương giảm từ 95% xuống còn 90%. Riêng tỉnh Cao Bằng có trên 41.800 người DTTS không còn thuộc đối tượng được NSNN đóng BHYT. Qua một thời gian triển khai tuyên truyền, vận động, đã có 24.600 người tiếp tục tham gia. Bên cạnh đó, nhiều người dân tự đóng BHYT theo hộ gia đình nhưng cũng chỉ có khả năng đăng ký tham gia 3 tháng, dẫn đến tham gia không bền vững.

Đại đa số người DTTS làm nông nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn nên không có điều kiện để tiếp cận và thụ hưởng chính sách BHYT. Do đó, để đảm bảo an sinh xã hội, trật tự, an toàn xã hội, Chính phủ nghiên cứu có chính sách hỗ trợ cho người DTTS, nhất là người DTTS sinh sống ở các khu vực mới ra khỏi vùng khó khăn, ĐBKK theo quy định tại Quyết định số 861.

Thực hiện: Thanh Nghị
Trình bày: Quang Hùng