Trong năm 2021, mặc dù phải đối mặt với vô vàn khó khăn, nhất là ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, nhưng với phương châm lấy người dân, DN là chủ thể, trung tâm phục vụ, bằng sự quyết tâm cùng những giải pháp sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với thực tế, ngành BHXH Việt Nam đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu, nhiệm vụ quan trọng.

Theo đó, số người tham gia BHXH tiếp tục tăng mạnh, đạt 16,547 triệu người, tăng 358.000 người so với năm 2020, trong đó BHXH tự nguyện đạt khoảng 1,45 triệu người, tăng 325.300 người (28,9%) so với năm 2020, đạt 2,96% lực lượng lao động trong độ tuổi là nông dân và lao động khu vực phi chính thức, cao hơn 1,96 điểm phần trăm so với chỉ tiêu được giao tại Nghị quyết 28-NQ/TW. BH thất nghiệp đạt gần 13,4 triệu người, tăng 794.000 người so với năm 2020; BHYT đạt khoảng 88,837 triệu người, tăng 794.000 người so với năm 2020 và đạt tỷ lệ bao phủ 91,01% dân số.

Quyền lợi BHXH, BHYT của người dân, NLĐ được đảm bảo. BHXH các địa phương đã chi trả đầy đủ, kịp thời, an toàn cho khoảng 3,3 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng. Đồng thời, triển khai đa dạng, linh hoạt các phương thức chi trả (chi trả gộp 2 tháng, chi trả tại nhà đối với khu vực, địa bàn bị phong tỏa trong thời gian dịch bệnh); đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt, đạt khoảng 57% số người nhận các chế độ BHXH, BH thất nghiệp qua tài khoản ATM tại khu vực đô thị, cao hơn 7% so với chỉ tiêu Chính phủ giao.

Cũng trong năm 2021, toàn Ngành đã giải quyết khoảng 7,8 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, DS-PHSK và BHXH một lần. Chi BH thất nghiệp 15.332 tỷ đồng. Quỹ BHYT đảm bảo quyền lợi cho khoảng 125,96 triệu lượt người KCB BHYT với tổng số chi 86.858 tỷ đồng.

Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, BHXH Việt Nam luôn đảm bảo quyền lợi cho người bệnh đang điều trị trong các BV thuộc khu vực cách ly y tế, BV dã chiến; thanh toán BHYT với chi phí xét nghiệm COVID-19; tạm ứng, thanh quyết toán kịp thời chi phí KCB BHYT; tổ chức kê đơn, cấp phát thuốc điều trị ngoại trú với thời gian dài hơn; chỉ đạo thực hiện chuyển tuyến, hẹn tái khám phù hợp với tình hình dịch bệnh tại địa phương…

Đặc biệt, khi đợt dịch lần thứ tư bùng phát, BHXH Việt Nam đã chủ động đề xuất, phối hợp với Bộ LĐ-TB&XH và các bộ, ngành liên quan kịp thời trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ NLĐ và chủ SDLĐ như: Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 1/7/2021, Quyết định 23/2021/QĐ-TTg ngày 7/7/2021, Nghị quyết 126/NQ-CP ngày 8/10/2021; đặc biệt là Nghị quyết 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 và Quyết định 28/2021/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 về chính sách hỗ trợ NLĐ và chủ SDLĐ từ quỹ BH thất nghiệp. Ngay sau khi các chính sách hỗ trợ được ban hành, BHXH Việt Nam đã triển khai quyết liệt, hiệu quả, kịp thời, với phương châm đưa chính sách đến DN và NLĐ nhanh chóng, thuận lợi nhất.

Cụ thể, với Nghị quyết 68/NQ-CP và Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, chỉ sau 7 ngày, toàn Ngành đã hoàn thành điều chỉnh giảm mức đóng vào quỹ BH TNLĐ-BNN cho 375.000 đơn vị, tương ứng 11,238 triệu NLĐ với số tiền trên 4.322 tỷ đồng; thành lập Đoàn công tác để trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn tại Hà Nội và 19 tỉnh, thành phía Nam; rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ từ 5 ngày xuống còn 1 ngày làm việc. Tính đến ngày 31/12/2021, giải quyết cho 851 đơn vị với 161.531 NLĐ tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất với số tiền hơn 1.119,8 tỷ đồng; xác nhận danh sách cho 3.071.500 NLĐ của 71.142 đơn vị SDLĐ để hưởng các chính sách hỗ trợ. Với Nghị quyết 116/NQ-CP và Quyết định 28/2021/QĐ-TTg, trong vòng 5 ngày (đến ngày 5/10/2021), toàn Ngành đã hoàn thành thông báo giảm đóng (từ 1% xuống 0%) vào quỹ BH thất nghiệp cho 363.600 đơn vị SDLĐ, với số tiền trên 7.595 tỷ đồng. Đến ngày 31/12, đã chi hỗ trợ cho 12,94 triệu NLĐ, với số tiền khoảng 30.730 tỷ đồng.

Đ đạt được những kết quả trên, BHXH Việt Nam đã tập trung, quyết liệt thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Đặc biệt, để cụ thể hóa Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ về “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, BHXH Việt Nam đã nhanh chóng xây dựng và triển khai trong toàn Ngành kế hoạch tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về thu, khai thác, phát triển người tham gia BHXH, BHYT… ngay từ những ngày đầu, tuần đầu, phù hợp với từng địa bàn, tương ứng từng cấp độ dịch bệnh COVID-19.

BHXH Việt Nam cũng đã linh hoạt trong chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT, giao chỉ tiêu đến từng cán bộ, đại lý thu. Đổi mới toàn diện công tác truyền thông đảm bảo đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng địa bàn dân cư, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan Thuế, KH-ĐT, Tư pháp, Công an trong việc quản lý CSDL quốc gia về dân cư; rà soát, phân loại các nhóm đối tượng tiềm năng, xây dựng CSDL người chưa tham gia BHXH, BHYT để tổ chức tuyên truyền, vận động tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình. Mở rộng hệ thống đại lý thu, bố trí các điểm thu, nhân viên thu đến từng thôn, bản, tổ dân phố. Bám sát, đôn đốc các đơn vị nộp tiền đóng BHXH, BHYT kịp thời; thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của DN để đôn đốc thu, không để phát sinh nợ kéo dài hoặc số nợ lớn.

Đặc biệt, quá trình ứng dụng CNTT, chuyển đổi số của ngành BHXH Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả người dân, NLĐ và DN. Đến nay, toàn Ngành đã cập nhật toàn bộ dữ liệu của trên 16 triệu NLĐ tham gia BHXH, BH thất nghiệp, 88 triệu người tham gia BHYT trên Hệ thống dữ liệu chung của Ngành; thực hiện giám định, thanh toán chi phí cho hàng trăm triệu lượt KCB mỗi năm, góp phần chấm dứt phương thức quản lý thủ công. Toàn bộ các quy trình nghiệp vụ giải quyết chế độ, chính sách đều được thực hiện trên phần mềm liên thông, chia sẻ dữ liệu với các phần mềm nghiệp vụ khác và CSDL của các bộ, ngành liên quan.

Cùng với đó, tích cực triển khai ứng dụng VssID để thay thế thẻ BHYT giấy, giảm đáng kể thời gian chờ đợi của người dân khi đi KCB. Thông qua ứng dụng VssID, người dân có thể kiểm soát toàn bộ quá trình đóng-hưởng BHXH, BHYT của mình. Theo đó, đến 31/12/2021, toàn quốc có gần 30 triệu người cài đặt, sử dụng ứng dụng, hơn 570.000 lượt sử dụng thẻ BHYT trên ứng dụng VssID để KCB BHYT…

Bên cạnh đó, BHXH Việt Nam cũng tiếp tục cắt giảm thời gian thực hiện các TTHC; đa dạng, linh hoạt các phương thức tiếp nhận, trả kết quả TTHC, đặc biệt là qua dịch vụ bưu chính công ích (tổ chức, DN không phải trả phí); đẩy mạnh giao dịch điện tử, cung cấp các dịch vụ công trực tuyến. Đến nay, 100% TTHC của BHXH Việt Nam được cung cấp trực tuyến mức độ 4 trên Cổng Dịch vụ công của Ngành (trừ thủ tục ủy quyền lĩnh chế độ, trợ cấp); tích hợp, liên thông với Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Thực hiện Nghị quyết 68/NQ-CP và Nghị quyết 116/NQ-CP, BHXH Việt Nam nhanh chóng cung cấp thêm 8 dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công của Ngành; kết nối, tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia để thực hiện hỗ trợ NLĐ và chủ SDLĐ gặp khó khăn do đại dịch COVID-19; đặc biệt đã rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ từ 5 ngày xuống còn 1 ngày làm việc.

Một nhiệm vụ quan trọng nữa của BHXH Việt Nam, đó là đã xây dựng Đề án tổng thể về chuyển đổi số của Ngành, triển khai Kế hoạch ứng dụng CNTT để phát triển Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng trong hoạt động của ngành BHXH Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Theo đó, tập trung xây dựng các phần mềm, đảm bảo liên thông trên tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ; từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái 4.0 phục vụ người dân và DN với 4 dịch vụ cơ bản (dịch vụ tin nhắn SMS; dịch vụ thanh toán trực tuyến; hệ thống Chatbot hỗ trợ khách hàng- trả lời tự động bằng trí tuệ nhân tạo; phân tích, khai thác dữ liệu lớn- Bigdata…).

Ngoài ra, tiếp tục đẩy mạnh và tối ưu hóa quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành. Phát huy hiệu quả từ kết nối, đối soát dữ liệu tự động 2 chiều với Tổng cục Thuế; liên thông với Bộ Tư pháp về dữ liệu khai sinh, khai tử phục vụ cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi, giải quyết, chi trả chế độ tử tuất, mai táng phí; kết nối dữ liệu đăng ký kinh doanh với Bộ KH-ĐT; liên thông dữ liệu với hơn 13.000 cơ sở KCB BHYT trên toàn quốc; chia sẻ dữ liệu hộ gia đình tham gia BHYT với Bộ Y tế để xây dựng hồ sơ sức khỏe, bệnh án điện tử; kết nối với ngân hàng thương mại để thực hiện thanh toán thu- chi điện tử; kết nối, đồng bộ hóa thông tin với CSDL quốc gia về dân cư, xác thực thông tin với 32 triệu công dân...).

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, BHXH Việt Nam đã kịp thời cung cấp, chia sẻ các thông tin, dữ liệu về người tham gia và hưởng các chế độ BHXH, BHYT để phục vụ hoạt động phòng chống dịch (lập danh sách xét nghiệm, tiêm chủng vắc-xin, xác định thông tin bệnh nền, theo dõi, truy vết nhanh bệnh nhân F0; khoanh vùng, dập dịch tại các KCN, đơn vị SDLĐ...).

Item 1 of 5

Thời gian tới, dịch bệnh COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường, gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT. Thực tế này đòi hỏi toàn ngành BHXH Việt Nam phải tập trung cao độ, nỗ lực cao nhất, thống nhất quan điểm chỉ đạo “lấy người dân, DN làm chủ thể, trung tâm phục vụ”, với phương châm “đoàn kết, kỷ cương, trách nhiệm, sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả”, quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, cũng như thực hiện hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19.

Theo đó, cần bám sát định hướng chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ để chủ động xây dựng các kịch bản triển khai nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn tương ứng từng cấp độ dịch; có lộ trình, cách thức triển khai, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, cá nhân. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và các cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai hiệu quả chính sách, pháp luật BHXH, BHYT. Nghiên cứu thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT đến cấp xã. Tiếp tục chủ động tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật BHXH, BHYT. Tiếp tục phối hợp nghiên cứu, mở rộng các chính sách hỗ trợ NLĐ và DN gặp khó khăn do COVID-19, nhất là các chính sách góp phần duy trì việc làm và ổn định cuộc sống cho NLĐ.

Toàn Ngành cũng phải nắm chắc tình hình, theo sát diễn biến dịch bệnh, nhất là các vấn đề phát sinh gây khó khăn, ảnh hưởng đến an sinh xã hội của người dân, hoạt động của DN; chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong tháo gỡ, xử lý kịp thời các vướng mắc hoặc đề xuất cơ quan thẩm quyền giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh cũng như chủ động đề xuất mở rộng các chính sách hỗ trợ NLĐ và đơn vị SDLĐ.

Đổi mới hơn nữa nội dung, hình thức, phương pháp truyền thông đảm bảo thiết thực, hiệu quả, đúng trọng tâm, trọng điểm, đa dạng, linh hoạt phù hợp với phong tục, tập quán từng vùng miền, đặc điểm tâm lý từng nhóm dân cư. Phát huy ưu thế của các hình thức truyền thông hiện đại trên mạng internet, các ứng dụng mạng xã hội, bảo đảm người dân có thể tiếp cận dễ dàng mọi thông tin về chính sách BHXH, BHYT.

Triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển người tham gia; đôn đốc thu, giảm nợ, không để phát sinh nợ đóng; thường xuyên rà soát, hoàn thiện CSDL người chưa tham gia để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình. Giải quyết, chi trả kịp thời, đầy đủ các chế độ cho người tham gia BHXH, BHYT. Tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất; chú trọng thanh tra, kiểm tra theo hình thức truyền thống kết hợp điện tử; kịp thời xử lý, kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT.

Tiếp tục rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa các TTHC, đảm bảo thuận lợi nhất cho DN, người dân; tiếp tục mở rộng, đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 của Ngành; đa dạng hóa các hình thức tiếp nhận, trả kết quả TTHC; đổi mới phương thức phục vụ, đẩy mạnh chi trả qua các tổ chức dịch vụ công, chi trả không dùng tiền mặt...

Thực hiện phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm đi đôi với kiểm tra, giám sát. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; thực hiện phân công, phân nhiệm đảm bảo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ kết quả”. Thường xuyên chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của CCVC và NLĐ; động viên, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích, sáng kiến, cách làm hay.

Theo đó, cần tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng, hệ thống CSDL về BHXH, BHYT, đặc biệt là CSDL quốc gia về bảo hiểm; tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với các bộ, ngành; hoàn thiện, bổ sung các tính năng mới trên ứng dụng VssID; nghiên cứu, triển khai các nền tảng, giải pháp kỹ thuật mới phục vụ chuyển đổi số cho ngành BHXH Việt Nam, nhất là việc xây dựng hệ thống phân tích xử lý dữ liệu lớn (Big Data), áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong các hoạt động của Ngành, nhằm phục vụ tốt nhất quyền lợi của người dân, NLĐ và DN. Bên cạnh đó, tiếp tục phát huy hiệu quả từ quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, đặc biệt là liên thông, đồng bộ với CSDL quốc gia về dân cư và CSDL quốc gia về bảo hiểm; nghiên cứu để từ đây cung cấp thêm nhiều tiện ích cho người dân tham gia BHXH, BHYT.

Trong năm 2022, toàn Ngành còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với sự quan tâm, định hướng, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước cũng như những bài học kinh nghiệm có được trong năm qua và nguồn nội lực bao năm dày công vun đắp, chắc chắn đội ngũ CCVC và NLĐ trong toàn Ngành sẽ tiếp tục tự tin, đoàn kết, đồng lòng thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, xứng đáng với trọng trách được Đảng, Quốc hội và Chính phủ giao.

- NGUYỄN THẾ MẠNH
Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam